Bồi thường chi phí đào tạo đối với công chức?
Tôi làm việc tại một cơ quan nhà nước từ năm 2003. Năm 2006, tôi trúng
tuyển và đi học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (của Bộ giáo dục).
Thời gian đi học của tôi là 1,5 năm.
Thư tay
Báo chí
Bạn bè
Hrlink
Các trang khóa học
Điện thoại
| Đang truy cập: | 39 |
| Lượt truy cập: | 804745 |
Có thể nói rất hiếm các DN Nhật Bản không có triết lí kinh doanh. Điều đó được hiểu như sứ mệnh của DN trong sự nghiệp kinh doanh. Là hình ảnh của DN trong ngành và trong xã hội. Nó có ý nghĩa như mục tiêu phát biểu, xuyên suốt, có ý nghĩa định hướng cho DN trong cả một thời kì phát triển rất dài. I/ Nghệ thuật quản lí kiểu Nhật Bản - Mô hình 7S với 3 yếu tố cứng và 4 yếu tố mềm ( Richard T. Pascal and Anthony Athos – American ) Cơ cấu tổ chức ( Structure ) Chế độ ( System ) Cán bộ ( Staff ) Phong cách ( Style ) Chuẩn mực về giá trị tinh thần ( Shooting mark ) Tài năng ( Skill ) II. Một số định nghĩa về Văn hóa và VHDN • Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã và đang diễn ra qua hàng bao nhiêu thế kỉ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó mỗi dân tộc khẳng địinh bản sắc của mình để tồn tại và phát triển ( Theo Federico Mager Zaragoza,TGĐ UNESCO. Lễ phát động Thập kỉ Thế giới Phát triển Văn Hóa của UNESCO – 1992 . Paris . ) III. Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản 1. Những nguyên nhân chính làm nên sự đặc thù của VHDN Nhật Bản • Sự phân thứ bậc mang tính “đẳng cấp”: Đạo Khổng du nhập vào Nhật Bản từ rất sớm, kết hợp với tinh thần tôn vinh giới Võ Sĩ Đạo như là một đẳng cấp hàng đầu: Võ sĩ – Trí thức – Công Nông – Thương nhân, đã làm nên một xã hội đẳng cấp kiểu Nhật Bản với tư tưởng đề cao Lễ – Tín – Nghĩa – Trí – Nhân. Cho đến nay có nhiều thay đổi, nhưng tinh thần đó vẫn biểu hiện rất mạnh trong các mối quan hệ XH và các tổ chức của Nhật Bản thể hiện: - Tôn ti trật tự – Công ty mẹ và con – Hội sở và chi nhánh - Quan hệ cấp trên cấp dưới – Lớp trước và lớp sau – Khách hàng và người bán hàng. • Một đất nước vốn dĩ nghèo nàn về tài nguyên, có nhiều thiên tai, kinh tế chủ yếu là nông – ngư nghiệp và sự ảnh hưởng của Tam Giáo Đồng nguyên du nhập nên người Nhật Bản coi trọng: - Tinh thần tập thể – Hài hòa Thiên Nhân Địa - Đề cao sự hợp lí – Sự ứng xử theo thứ tự coi trọng Lễ, Tín, Nghĩa, Trí, Nhân. Xã hội Nhật Bản tự biết mình thiếu rất nhiều các điều kiện nhưng cần phải khẳng định mình, nên có khuynh hướng du nhập và cải hóa những gì du nhập vào để chúng biến thành Kiểu Nhật Bản. Bởi vậy VHDN Nhật Bản có sự giao thoa đỉnh cao các yếu tố Tây / Đông/ Nhật Bản. Tuy nhiên đến một lúc nào đó sự phát triển làm cho chiếc áo đó bộc lộ nhiều bất cập và mâu thuẫn. Tất cả cái đó cũng phản ánh trong tính cách phức tạp của người Nhật Bản. • Ngôn ngữ có nhiều mặt hạn chế ( như rất ít các nguyên âm, Phụ âm luôn đặt trước nguyên âm, một tỉ trọng lớn từ ngữ gốc ngoại nhập được thể hiện dưới dạng chữ Kanji và chữ Katakana ) góp phần khiến người Nhật Bản rất cẩn trọng khi phát biểu, thể hiện chính kiến, và thường thông qua thái độ ngầm định, những yếu tố phi ngôn ngữ, sự nỗ lực thể hiện của bản thân để điền vào chỗ trống của ngôn từ. Bởi vậy để hiểu họ thường phải kết hợp nghe họ nói, quan sát những gì họ thể hiện và thấu hiểu tính cách của họ. • Sự thua trận của Nhật Bản trong Đại chiến thế giới lần thứ II khiến Nhật Bản chỉ còn lại đống tro tàn và nhục nhã, bên cạnh đó là bị ràng buộc bởi rất nhiều cam kết bất lợi. Điều này khiến cả nước Nhật gắn kết lại, làm hết sức mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế. Trong thời kì này dấy lên trong xã hội Nhật Bản sự tôn vinh lao động xả thân vì DN và vì xã hội. Người Nhật Bản coi trọng lao động hơn tất cả, gắn bó với DN hơn với gia đình của mình, đặt tất cả sự nghiệp của mình cho sự thành công của tổ chức. Cạnh tranh và hiệp tác được thúc đẩy song hành. Hàng chục năm qua đi, những phẩm chất đó đã trở thành những nét mới, bền chắc và định hình thành VHDN Nhật Bản. Không ai nghi ngờ gì VHDN đó đã giúp nhiều DN Nhật Bản gặt hái được nhiều thành công, Nhật Bản trở thành cường quốc thứ II trong nền kinh tế thế giới. 2. Nét độc đáo của VHDN Nhật Bản Triết lí kinh doanh Lựa chọn những giải pháp tối ưu Đối nhân xử thế khéo léo Phát huy tính tích cực của nhân viên Tổ chức sản xuất kinh doanh năng động và độc đáo Công ty như một cộng đồng Công tác đào tạo và sử dụng người Nét độc đáo của VHDN Nhật Bản đã kết tụ rất rõ nét trong Phong cách quản lí kiểu Nhật, là một trong những nguyên nhân chính làm nên sự thành công trong KD của các DN Nhật Bản IV. Phụ lục tham khảo Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản 1. Một điển hình về văn hoá kinh doanh : Ông Konosuke Matsushita Konosuke Matsushita là ai ? Đó là cậu bé 9 tuổi của một gia đình nề nếp kiểu Nhật bị khánh kiệt vào những năm đầu của thế kỷ 20, phải rời ghế nhà trường ở độ tuổi thiếu nhi để bước vào học nghề sửa xe đạp ở thành phố Osaka. Mồ côi cha, mẹ từ năm 15, 18 tuổi, tự lực mưu sinh với bệnh phổi hiểm nghèo ngay từ độ tuổi “hoa niên” của cuộc đời. Ông vốn chỉ có trong tay 100 Yên tiền trợ cấp thôi việc, đã gây dựng nên một cơ đồ khổng lồ của hãng Matsushita Electric. Cuộc đời của Matsushita chính là bản đúc kết kinh nghiệm thành công và cả triển vọng bão tố đối với một dân tộc đã biết bằng sức mạnh của ý chí, tinh thần và tài nghề, tiến lên chinh phục hết mục tiêu này đến mục tiêu khác trong một thế giới cực kỳ phức tạp mà quy luật thị trường còn ghê gớm hơn cả chiến trường. Ông đã nêu ra một số bài học: Các Quan điểm và phương pháp quản lí của Matsutani có sức ảnh hưởng rất lớn trong XH Nhật Bản. Triết lí KD của Matsushita là: 2. VHDN đã thể hiện trong hoạt động kinh doanh của Công ty KYOSHIN Viet Nam như thế nào? 3.Văn hoá kinh doanh Nhật bản thể hiện trong các triết lý về kinh doanh của Yoichi Suminokura Yoichi là người hiếu học, thường thích đọc sách để mở mang kiến thức. Từ nhỏ, Yoichi đã đọc Luận ngữ, lên 18 tuổi được Ryôichi cho thụ giáo với Fujiwara Seika (Đằng Nguyên Tinh Oa), một đại nho lừng danh thời bấy giờ. Yoichi thường được xem là một thương nhân vượt hẳn các thương nhân cùng thời bởi ông có tầm nhìn xa rộng và không suy nghĩ rập khuôn về thương. Có thể nói Yoichi là một trong những nhà kinh doanh đầu tiên ở Nhật chú ý tới vấn đề luân lý trong kinh doanh. Trước khi dẫn thuyền châu ấn sang An Nam, Yoichi nhờ Seika thảo “Syuchyu kiyaku” (Quy ước trên thuyền) nhằm quy định những nguyên tắc mà khách thương, thuỷ thủ và những người tren tàu phải tuân theo khi ở trên thuyền, cũng như trong khi giao dịch ở Việt nam. Sau đây là bản dịch toàn văn của quy ước, gồm có 5 điều sau: (a) Việc giao dịch nói chung, là thông qua sự có hay không có mà mang lại lợi ích cho người và mình. Không được làm tổn hại cho người mà kiếm lợi cho mình. Nếu có lợi cho cả hai bên, thì cho dầu mỗi bên tuy lúc đầu chỉ có lợi nhỏ, những cuối cùng sẽ được cái lợi lớn. Nếu không có lợi cho cả hai bên, thì tuy lúc đầu được lợi lớn cho mình nhưng cuối cùng chỉ có cái lợi nhỏ. Lợi là sự thành tựu tốt lành [gia-hội]của “nghĩa”. Vì vậy mới có câu là: “Thương nhân tham lấy 5, thương nhân biết phải traid chỉ lấy 3”. Cần suy nghiệm điều đó. (b) Nước ngoài tuy khác nước ta về phong tục, ngôn ngữ, nhưng cái lẽ trời [thiên phú chi lý] thì nào có khác nhau. Không được quên cái chung đó mà nghi sợ cái khác nhau rồi lừa bị, khinh nhờn hay thoá mạ. Người nước ngoài có thể không biết đến những việc này, nhưng chúng ta thì chắc chắn phải biết. [Người xưa có câu nói:] “Con lợn, con cá cũng cảm được chữ tín, con chim hải âu cũng không muốn bị lừa”. Trời không dung tha việc dối trá. Bởi vậy phải cẩn thận, để đừng làm nhục đến tăm tiếng quốc gia. Nếu gặp người có lòng nhân hay bậc quân tử, kính trọng họ như khính trọng người cha hay người thầy của chính mình. Tìm hiểu những điều cấm kỵ của nước ngoài và tuân theo phong tục, và tập quán của nước đó. (c) Trong khoảng trên là trời và dưới là đất, tất cả mọi người đều là anh em một nhà và muôn vật là của chung. Huống hồ là người cùng một nước ! Huống nữa là người cùng đi chung một thuyền ! Khi gặp hoạn nạn, bệnh tât, hay đói rát, việc cứu trợ phải công bằng. Không ai được phép tìm cách trốn tránh một mình. (d) Sóng cồn gió táp tuy nguy hiểm, nhưng cũng không nguy hiểm bằng dục vọng con người. Con người ham muốn nhiều thứ, nhưng không còn gì làm đắm đuối lòng người bằng tửu sắc (rượu và nữ sắc). Người đi cùng nhau khi thấy cần thiết, phải uốn nắn ửa chữa cho nhau. Người xưa có nói: “Nơi nguy hiểm nhất là ở trên giường ngủ và chốn ăn nhậu”. Phải cẩn thận mà tránh. (e) Những chi tiết khác đã được ghi riêng, đêm ngày nên để bên mình mà xem. 4. Bức thư của Yoichi Trong bức thư Yoichi nhờ Seika viết thay mình nhằn gửi vị “Đầu mục nước An Nam” voà nưm 1605, Yoichi tạ lỗi về những dai lầm của một số thuỷ thủ người Nhật ở Việt Nam xảy ra vào năm trước. Bức thư này xác nhận lại chữ tín trong quan hệ quốc tế, đồng thời nhấn mạnh vai trò của “thương nhân” trong xã hội. Bức thư tuy có hơi dài và có nội dung toàn văn như sau: Tháng sáu năm ngoái, thuyền nhân chúng tôi trở về bình an, mang theo thư trả lời của ngài cùng một số tặng phẩm quý giá (4 viên ngọc Xaphia, lụa trắng hạng tốt nhất 20 trượn, quạt ngà 2 cái, hương lạp 1 bình, linh-lăng-hơng 1 bình). Chúng tôi không biết nói gì để cảm ơn hậu ý của ngài. Trong thư ngài có nói rằng chữ tín là cốt lõi của nền luân lý trong nước và gia đình. Chúng tôi cũng tin rằng chữ tín sẵn có trong tính tình người nước chúng tôi có thể động đến đất trời, xuyên vàng đá, và rung cảm bất cứ vật gì; ảnh hưởng của nó không chỉ giới hạn trong việc giao thương với các nước lân bang. Cách nhau ngàn dặm, cho dầu phong tục tuy bất đồng, nhưng tính tốt đó thì ở mọi nơi trên thế giới nào có khác gì nhau đâu ? Xem đó mới thấy rằng người ta chỉ khác nhau ở chỗ bên ngoài như y phục hay ngôn ngữ. Ngàn vạn dặm tuy có xa, y phục ngôn ngữ tuy có khác, nhưng có một điều mà các nước không khác nhau: đó là chữ tín. Năm ngoái những người đại diện của chúng tôi không có đức hạnh. Trên đường đi về, họ đã làm điều sia trái, ăn nói tráo trở, làm lắm lỗi lầm. Bởi vậy, họ đã bị trừng phạt theo hình luật của nước chúng tôi. Thiết tưởng quý quốc cũng làm như vậy trong trường hợp tương tự. Thuỷ thủ ở nước chúng tôi nói chung là những người được mộ tập từ những trẻ ngoài đường hay những người đi bán doạ, hễ thấy một chút lợi nhỏ thì họ dễ quên cái nhục lớn. Họ ăn nói bừa bãi, tuỳ hứng, những lời của họ không đáng tin cậy. Bởi vậy, từ nay về sau chữ tín giữa hai nước phải được trao đổi bằng thư, và thư phải có đóng khuôn dấu chứng thực. Hôm nay, chúng tôi gửi qua thuyền nhân bức thư này nhằm trả lời bức thư hè năm ngoái và mong được quý quôcs tra cứu lại kỹ lưỡng. Chúng tôi cũng gửi kèm theo một số vật sản của nước chúng tôi, gọi là chút lễ mọn tỏ tình hoà hiếu. Trong thư ngài có nói quý quốc là "nước của thi, thư, lế, nghĩa; chứ không phải đất hội họp chợ búa [thị hoá hội tập chi địa], việc hội họp chợ búa mua bán là chỉ lo làm lợi, thật đáng khinh bỉ". Tuy nhiên, nói một cách tổng quát, trong tứ dân [sĩ, nông, công, thương] thì ai lại chả là dân; trong tám bộ của chính phủ, bộ nào mà chr là bộ của chính phủ nhằm lo việc an dân ? Ngaòi việc an dân, không có thi inh lễ nghĩa. Ngoài thi kinh lễ nghĩa không có cách an dân. Điều này giống nhau ở khắp mọi nước và cũng là căn bản của chữ tín. Quý quốc lo là sự thất tín của nước ngoài sẽ sinh ra nhiều việc không tốt, nhưng giữa hai nước chúng ta không có việc thất tín - cho dầu có một ít ngoại lệ - vậy làm sao đến nỗi để có thể sinh ra chuyện không tốt ? Dĩ nhiên, không thể không cảnh giác, nhưng nếu có việc gì thì giữa hai nước chúng ta nước nào cũng có pháp luật để trừng trị rồi, há chẳng phải như vậy sao ? Thái độ chân thành, thẳng thắn và hợp lý của họ Suminokura hình như đã tranh thủ được cảm tình của chính phủ Đàng Ngoaì. Bằng chứng cụ thể là vào tháng 6 năm 1609, khi định trở về lại Nhật, thuyền Suminokura gặp phải sóng to gió lớn khi vừa ra khỏi cửa biển, 13 người trên thuyền kể cả thuyền trưởng Suminokura Gouemon (Giác Thương Ngũ Hữu Vệ Môn), một người thuộc dòng họ Suminokura, phải hy sinh. Những người có trọng trách trong chính quyền Đàng Ngoài đã hợp sức che chở cho những thuyền nhân sống sót trong dinh thất của mình: Quảng phú hầu lo 49 người, Thư quận công lo 39 người, và Văn lý hầu lo 26 người. Nhờ sự giúp đỡ tận tình này, sau khi thuyền được sửa sang lại, hơn 100 người còn người sống sót đã trở về lại Nhật bình an. 5. Sự vận dụng tinh thần "võ sĩ đạo" và nhiều học thuyết trong tư tưởng của Khổng Tử vào kinh doanh của nhà kinh doanh người Nhật Shibusawa (1840 -1913) Tương ứng với điểm thứ nhất, V từng khẳng định với những nhân vật trong chính giới và tài giới như sau: Những loại thương tài bất đức như dối trá, điêu ngoa, phù phiếm - tách rời khỏi đạo đức, thì bất quá chỉ là tài vặt, khôn vặt, chứ đau phải là tài năng kinh doanh thực sự. Nếu cho rằng sự giàu có và lòng nhân (phú và nhân) khong thể đi đôi hoặc cho rằng “lợi” và “nghĩa” không thể đi đôi, thì hoàn toàn sai lầm. Shibusawa nói: “đừng lầm tưởng là thương nghiệp và đạo đức không thể dung hoà được với nhau như nước với lửa. Dù tri thức có phát triển và tài sản có gia tăng, nếu không có đạo đức thì không thể phát huy được hết sức mình trong thiên hạ”. Tương ứng với điều hai, ta thấy trong các sách về quản trị nhân sự và chiến lược kinh doanh của Nhật, thường có điểm sau: Khi xem xét đề bạt một giám đốc xí nghiệp lên một cấp cao hơn, người ta thường văn cứ vào tiêu chuẩn: Người giám đốc đó đã đào tạo được bao nhiêu cán bộ dưới quyền có năng lực. Khi nói về tinh thần người quân tử được áp dụng trong kinh doanh, Shibusawa thường trích câu nói đầy khí phách của Khổng Tử: “Giàu sang thì ai cũng muốn, những chẳng đúng với đạo lý mà được giàu sang thì ta chẳng ở cảnh ấ. Nghèo hèn thì ai cũng ghét, những không lấy đạo lý mà thoát khỏi cảnh nghèo thì ta chẳng bỏ cảnh ấy; ăn gạo sống, uống nước lã, gập cánh tay mà gối đâu, tuy thế cũng có cái vi ở trong đó, làm điều bất nghĩa mà giàu sang thì ta coi như đám mây nổi; người quân tử có thể hành động đời đời làm đạo cho thiên hạ, hành vi có thể đời đời làm khuôn phép cho thiên hạ, người ở xa thì trông mong, người ở gần không bao giờ chán”. 6. Nhãn hiệu Casio: những chặng đường gian nan Ngày nay, nhãn hiệu Casio đã nổi tiếng thế giới, sane phẩm mang nhãn Casio có mặt khắpc năm châu. Doanh thu hàng năm đạt vài tỷ USD. Bốn anh em rất muốn thực hiện tốt hợp đồng này vì nó có ý nghĩa đặc biệt cho sự tồn tại của mình. Sau thời gian lao tâm khổ trí, họ đã cho ra đời máy tính điện tử kiểu mới. Song do một vài trục trặc, nên trong buổi biểu diễn gkiới thiệu sản phẩm, loại máy này đã không vận hành được, khiến bốn anh em bị mất mặt. Mặc dù họ đã rát họng giải thích song khách vẫn bỏ về hết. Công ty TY thấy vậy, bắt đầu hoài nghi về bán anh em họ, và đã huỷ hợp đồng. Ban đầu, công ty tung ra thị trường “loại máy tính kiểu relay Casio 14 - A”, 14 là số hạng, “A” là loại máy mới đưa ra bán. Trong loại máy này có trang bị 342 relay. Tháng 5 - 1957, tại Tokyo đã làm lễ ra mắt loại máy này, do máy có nhiều tính năng hoàn hảo, nên khách hàng đua nhau đặt mua. Trong hơn 200 loại máy tham gia triển lãm, loại máy của “Casio” đã được giải cao về khoa học kỹ thuật. Từ đay, công ty làm ăn phát đạt, như diều gặp gió. Song đúng lúc công ty Casio đang làm ăn thuận lưọi thì các đối thủ cạnh tranh cũng xông vào lĩnh vực kinh doanh máy tính. Đối thủ chính của công ty là công ty Thanh Bảo. Thật hoạ vô đơn chí, khi họ phải đương đầu với công ty Thanh Bảo, thì Nội Điền Dương Hành tuyên bố huỷ hợp đồng với Casio trả toàn bộ hàng tồn cho Casio. Trước thực trạng nghiệt ngã này, công ty đã áp dụng biện pháp sau: Vượt lên sóng lớn tiếp tục phát triển. Trước tiên công ty đột phá mở hướng đi sản xuất loại hàng mới. Tháng 3 - 1965 họ chế tạo thành công loại máy kiểu relay siêu nhỏ: “Casio 81”, cùng năm lại cho ra mắt loại máy “Casio tinh thể 001”. Hai loại máy tính này nhành chóng được khách hàng ưa chuộng, khiến công ty Casio cải tử hoàn sinh. 7. Bước thành danh của công ty xe hơi Nhật Toyota Xe của công ty Toyota gồm vài chục loại cỡ tải trọng nhẹ. Ngoài 10 xưởng trực thuộc công ty, còn có hơn 1240 xưởng hợp tác, cung cấp 80% linh kiện rời. Ngày nay, mức tiêu thụ của công ty đạt gần 30 tỷ đô la, lãi sau thuế đạt 1 tỷ đô la. Bên trong nhà máy Toyota, có một cung thể thao sức chứa 2 vạn khán giả, tại huyện Tĩnh Cương có một sở nghiên cứu xe hơi rộng chừng 206 vạn mét vuông. Nhà máy còn xuất bản các tờ: “Toyota tân văn”, “Xã hội thông tấn”, ... Ngoài ra công ty còn sở hữu một bến cảng xe hơi lớn nhất thế giứoi, hàng năm có thể bốc xếp lên tàu hơn 1 triệu chiếc. Đủ thấy trình độ quản lý của công ty cao đến đâu. Xe hơi Toyota đã nổi tiếng thế giới bằng phương thức bán hàng đặc biệt, trước tiên cho xây dựng mạng lưới các đại lý ở trong và ngoài nước, mở các điểm liên hệ rộng rãi khắp các thị trường. Nhưng từ sau cuộc khủng hoảng xăng dầu nổ ra, xe hơi bước vào thời đại giá thành thấp. Công ty đã có sự điều chỉnh kịp thời, thay cách làm sản xuất và tiêu thụ phân tán trước đây thành kiểu kết hợp công tiêu, nên đã phát huy hết sức mạnh tiền vốn và nhân tài. Đồng thời còn chuyển hướng mục tiêu ra nước ngoài. Để thực hiện “Phương thức khán bản” (giảm giá thành), công ty đã chỉ đạo và tuyên truyền để các xưởng hợp tác hiểu rõ, muốn tồn tịa và phát triển phải nghĩ cách giảm giá thành. Từ đó, đi sâu cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý để đạt mục đích đề ra. Trong việc xuất xe ra nước ngoài, để loại trừ những trở ngại trong quan hệ mậu dịch với Mỹ và các nước Châu Âu, công ty đã quyết định mở các xưởng sản xuất tại các thị trường chính như Mỹ. Họ đã tận dụng, cỉa tạo xưởng sản xuất xe GM ở Mỹ đang nghỉ việc, liên doanh sản xuất loại xe cỡ nhỏ. Từ tháng 4 năm 1985, liên doanh này đã đi vào sản xuất, đạt kết quả mong muốn. 8. Công ty Nhật "Nikang" đi lên từ chữ tín Quá trình đi lên của công ty luôn gắn liền với nguyên tắc: chiếm lòng tin nơi khách hàng, thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng. Mỗi lần công ty gặp áp lực từ bên ngoài, đều tìm cách kích thích sức sống nội bộ để vượt qua. Tóm lại công ty đã vận dụng các đối sách sau: Sau khi triển khai phong trào hợp lý hoá sản xuất, các nhân viên trong công ty do có sự khích lệ của chế độ thưởng, nên đã đưa ra nhiều kiến nghị hợp lý, mỗi năm có đến hàng nghìn kiến nghị. Những kiến nghị này có tác dụng lớn trong việc giảm giá thành, giảm tiêu hao, nâng cao hiệu quả sản xuất. Nâng cao giá trị của sản phẩm. Để khắc phục ảnh hưởng của việc tăng giá đồng Yên, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, công ty đã tìm mọi cách nâng cao chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Chẳng hạn từ năm 1987, họ đã kịp thời tung ra loại máy ảnh cao cấp tự động hoàn toàn F501, năm 1989 lại tung ra sản phẩm mới là F801, do đó đã nâng được sức cạnh tranh. Phát huy hết giá trị con người. Dưới các loại sức ép từ bên ngoài, công ty rất chú trọng phát huy sức mạnh của các nhân viên kỹ thuật và nhân viên thiết kế, lập riêng bộ môn nghiên cứu kỹ thuật, bộ môn khai thác sản phẩm, và công ty phần mềm, cung cấp cho họ môi trường làm việc tốt và chế độ thưởng thích đáng, khiến thành quả ngày một tăng cao. 9. "Hòm kiến nghị" của công ty xe hơi Nhật "Mazda" Mazda là công ty xe hơi lớn thứ ba ở Nhật, một trong mười công ty xe hơi hàng đầu của htế giới, hàng năm xuất sưởng chừng 10 triệu xe các loịa. Từ tháng 5 - 1954 đến nay, công ty đã triển khai hoạt động kiến nghị hợp lý hoá, đến nay cán bộ nhân viên công ty đã đưa ra 2 vạn kiến nghị, bình quân mỗi năm trên 6 vạn, bình quân mỗi người một năm đưa ra chừng 30 kiến ngị. Từ khi công ty áp dụng phương pháp quản lý này, đã phát huy hết tính sáng tạo của nhân viên, tránh được nhiều sai sót, tăng hiệu quả kinh tế rõ rệt. Khi tổng kết hoạt động này, công ty quy nạp thành 3 vấn đề: 1- Có thể tôn trọng và bồi dưỡng tinh thần sáng toạ của nhân viên, tạo điều kiện cho các cá nhân phát triển và đạt thành quả cao, khiến ai cũng muốn phục vụ công ty hết long. 2- Bồi dưỡng nhân viên lòng yêu nghề, yêu xí nghiệp như nhà, từ đó hết lòng phục vụ, đồng tâm cộng khổ cùng xí nghiệp. 3- Có thể đạt mục đích giảm chi phí sản xuất, giảm giá tành. Để cho hoạt động này được liên tục, công ty đã có nhiều biện pháp. Một là có đường điện thoại riêng, thực tiếp đối thoại hoặc qua “hòm kiến gnhị”. Hai là sau khi nhận kiến nghị sẽ chuyển ngay đến các phòng chuyên môn để nghiên cứu, hẹn kỳ giải quyết. Ba là khi kiến nghị được tiếp nhận, nếu có giá trị sẽ được thưởng tiền tương ứng. Nếu kiến nghị không được nhận ngay, hoặc không được tiếp nhận, cơ quan hữu quan phải có sự giải thích, và tặng họ một chút quà khích lệ. Bốn là, với các loại kiến nghị, dù được nhận hay không đều phải phân loại vào sổ, lưu trữ trong máy vi tính, để làm căn cứ đánh giá nâng bậc công chức sau này. Chính nhờ phương thức quản lý kiểu “hòm kiến nghị” trên là công ty xe Mazda trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Nguyễn Tất Thịnh
Chuyên gia tư vấn doanh nghiệp - Giảng viên Học viên Hành chính Quốc gia
|
Trụ sở: Tòa nhà Sannam, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: (844) 3 7855518 Fax: (844) 3 7855518
Email: contact@eduviet.vn

Khảo cứu Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản
Phản hồi








